Giải đề thi TOEIC thật ngày 27/3/2016 | câu 125-132

125. Câu dạng động từ: xét vị ngữ.
126. Dạng câu giới từ: giới từ withinwithin an hour’s drive
127. Dạng câu từ loại: vị trí chọn tính từ.
128. Dạng câu từ loại: vị trí chọn danh từ.
129. Dạng câu từ vựng: offer a significant discount on… = cung cấp một mức giảm giá đáng kể đối với…
130. Dạng câu từ vựng: can be painted only on… = chỉ có thể được sơn trên…
131. Dạng câu tạp nham: Usually vs. Regarding vs. Instead of vs. Now that.
132. Dạng câu từ loại: vị trí chọn trạng từ.


Lời thoại của video:

Câu 125

Đáp án là động từ ring nhưng rõ ràng chúng ta thấy ring ở những dạng khác nhau như dạng thêm -ing, dạng thêm -s hay dạng to-V. Còn be rung là động từ to be đi với past participle của nó – rung past participle của ring. Rõ ràng chúng ta cần phải biết là chúng ta cần động từ dạng gì vào chỗ trống này. Chúng ta cần phải coi ngữ pháp.

Như chúng ta đã biết thì trong một câu, ví dụ khi mình nói He studies English – “Anh ấy học tiếng Anh”, he là chủ ngữ – “anh ấy”. Studies English – “học tiếng Anh” là vị ngữ ở đây. Rõ ràng studies là động từ mà mình hay nói đóng vai trò làm vị ngữ. Studies là động từ đứng đầu của một vị ngữ. Những động từ đóng vai trò làm vị ngữ thường là những động từ chia ở một thì nào đó. Ví dụ mình nói He will study English – “Anh ấy sẽ học tiếng Anh”, hay He has studied English – “Anh ấy đã học tiếng Anh”. Hay mình có thể nói như thế này: He can study English. Đó có thể là những chữ như can/must/should. Những chữ đó cũng đóng vai trò làm vị ngữ: will study, has studied là vị ngữ.

Còn động từ dạng to-V không đóng vai trò làm vị ngữ. Ví dụ như mình nói He studies English to become better nghĩa là “Anh ấy học tiếng Anh để trở nên tốt hơn”. Thì ở đây to become không phải là vị ngữ. Ở đây to become chỉ là cái để chỉ mục đích: He studies English to become better – “Anh ấy làm cái việc học để làm cái việc này”. To become không phải là vị ngữ, vị ngữ là studies. Studies mới là “hành động anh ấy làm” còn to become không phải “hành động anh ấy làm”: He studies English to become better – “Anh ấy chỉ làm cái việc studies English này để làm cái việc become better này”, “Anh ấy không làm cái việc become better này”. Nên bạn thấy động từ dạng to-V không đóng vai trò làm vị ngữ.

Hoặc động từ dạng V-ing cũng vậy. Rõ ràng chúng ta không có nói như thế này: He studying English. Câu này không đúng ngữ pháp. Động từ dạng V-ing không chia ở thì nào hết. Thà bạn nói như vậy thì được: He is studying English – “Anh ấy đang học tiếng Anh”. Ở đây chúng ta có động từ is to be thì is studying là cấu trúc của thì hiện tại tiếp diễn: He is studying English là “Anh ấy đang học tiếng Anh” – thì hiện tại tiếp diễn. Thì is studying English mới đóng vai trò làm vị ngữ. Còn một động từ dạng V-ing đứng một mình thì nó không được đóng vai trò làm vị ngữ. Nói chung đóng vai trò làm vị ngữ là những động từ chia ở các thì hoặc là những dạng như can study/must study/should study. Chứ động từ dạng to-V và động từ dạng V-ing không đóng vai trò làm vị ngữ cho một câu.

Nên đầu tiên chúng ta thấy đáp án có ringingV-ing, to ringto-V ở đây rồi. Thì chúng ta phải coi chỗ trống có đóng vai trò làm vị ngữ cho câu này không? Chủ ngữ là a bell – “một cái bell”. Rồi chúng ta nhìn ở phía sau, A bell —— in the main hall to notify factory workers of the beginning of a shift – “Cái bell đó làm gì đó trong cái gì đó để làm gì đó những người gì đó liên quan đến cái gì đó của cái gì đó”. Rõ ràng chúng xét phía sau rồi cũng chưa hề có động từ nào ngoài động từ notify này. Mà động từ notify ở dạng to-V. Như mình đã nói, động từ notify này chỉ mục đích để làm gì đó, không đóng vai trò làm vị ngữ. Nên nguyên câu A bell —— in the main hall to notify factory workers of the beginning of a shift chưa có từ nào đóng vai trò làm vị ngữ. Cho nên động từ điền vào chỗ trống này phải đóng vai trò làm vị ngữ. Nên chúng ta loại những đáp án như V-ing to-V vì chúng không đóng vai trò làm vị ngữ được.

Còn đáp án (A) be rung là động từ to be dạng nguyên mẫu. Rõ ràng be rung cũng không được. Động từ to be dạng nguyên mẫu muốn làm vị ngữ thì phải đi sau những chữ như can be/should be. Lúc đó chúng ta mới dùng động từ to be dạng nguyên mẫu. Còn không chúng ta phải nói là was rung – chia ở thì quá khứ đơn hoặc is rung. Động từ to be chia ở thì quá khứ hay hiện tại mới đóng vai trò làm vị ngữ. Còn một chữ be nguyên mẫu không đóng vai trò làm vị ngữ được. Nên cuối cùng chỉ có thể là đáp án (C) rings. Chữ rings thêm –s đang chia ở thì hiện tại đơn, đóng vai trò làm vị ngữ của a bell: A bell rings – “Cái này nó ring”.

Câu 126

Câu này có bốn đáp án là bốn giới từ khác nhau: within, onto, so that, despite nên chúng ta cần phải hiểu nghĩa. Ở đây người ta đang nói The Camelot Hotel is —— “Khách sạn gì đó thì như thế nào đó”. Phía sau an hour’s drive là cụm danh từ – “một cái gì đây”. Danh từ chính là chữ drive: an hour’s drive – “drive 1 giờ”. Động từ drive là “lái xe”. Nhưng rõ ràng ở đây drive đóng vai trò làm danh từ, có nghĩa là “việc lái xe”: an hour’s drive from most of the city’s popular tourist attraction – “việc lái xe kéo dài 1 giờ từ cái gì đó”. Chúng ta thấy được câu này muốn nói là “khách sạn này cách một tiếng lái xe so với chỗ nào đó”.

Thì chúng ta thấy đáp án within rất hợp lý. Within có nghĩa là “trong vòng”. Tức là “khách sạn này ở trong phạm vi là một tiếng lái xe so với chỗ nào đó”. Cho nên chúng ta chọn within vào chỗ trống. Rồi phía sau nếu bạn thấy những chữ như ten minutes’ walk, hay 5 minutes’ drive, tức là “khoảng cách đi bộ 10 phút” hay “khoảng cách lái xe 5 phút”, thì chúng ta chọn chữ within – “trong vòng khoảng cách đó”.

Chữ onto không phù hợp. Ví dụ mình nói climb onto the table nghĩa là “leo lên trên cái bàn”.  “Từ dưới đất mà mình leo lên trên mặt bàn” thì lúc đó chúng ta mới dùng onto. Ở đây rõ ràng chúng ta không dùng.

Chúng ta để ý đáp án có so that. So that thì phải đi với một câu có chủ ngữ và vị ngữ. Rõ ràng ở đây chỗ trống đứng trước một cụm danh từ chứ không phải là một câu nên chúng ta không chọn so that.

Câu 127

Khi đi thi TOEIC, bạn thấy chỗ trống nằm sau động từ to be thì đại đa số là bạn chọn những chữ có đuôi tính từ. Ví dụ những đuôi tính từ có chữ như -ful/-able/-ous.

Đáp án có động từ impressed dạng V-ed. Động từ dạng V-ed cũng có thể đứng sau động từ to be nhưng khi bạn thấy những đuôi tính từ như -ful/-able/-ous thì bạn ưu tiên chọn những tính từ này. Bạn đừng chọn động từ dạng V-ed hay động từ dạng V-ing.

Câu 128

Chúng ta thấy the bắt đầu cho một cụm danh từ. Rồi cụm danh từ này sẽ kéo dài đến chỗ nào? Thì chúng ta thấy phía sau chỗ trống là động từ listed – động từ dạng V-ed. Tức là ——- listed – “được list”, hay là listed in the candidate’s resume – “đã list cái gì đó”. Cho nên cụm danh từ chỉ dài từ đầu câu đến chỗ trống: The many —— listed – “Cái gì đó được list gì đó”. Cho nên The many —— là cụm danh từ – “nhiều cái gì đó”. Rõ ràng chúng ta cần một chữ đóng vai trò làm danh từ vào chỗ trống cần điền: The many —— listed in the candidate’s resume – “nhiều một cái gì đó được list ở trong cái gì đó”. Nên chúng ta chọn danh từ vào chỗ trống. Đáp án phải là câu (B) accomplishments do có –ment là đuôi của danh từ.

Câu 129

Câu này có bốn đáp án là bốn chữ rất khác nhau: delivery, renewal, discount, restraint. Chúng ta cần phải xét nghĩa của câu này. Chúng ta đọc ở chỗ for a limited period thì chúng ta thấy nó nghĩa là “cho một cái gì đó”. Rõ ràng limit là “giới hạn” – chữ rất quan trọng. Limited là “bị giới hạn”: for a limited period – “trong cái gì đó bị giới hạn”. Rồi chúng ta gắn chữ only vào: for a limited period only tức là “chỉ trong một cái gì đó bị giới hạn”. Rồi phía sau là If you book – “Nếu bạn book”. Book là động từ. Ví dụ như mình nói “book phòng” hay “book vé” thì book nghĩa là “đặt”. Nên trong câu này book là “đặt”, offer là “cung cấp”: If you book a consultation, Brookings Home Insurance will offer a significant —— on property insurance – “Nếu bạn đặt một cái gì đó thì công ty này sẽ cung cấp một cái gì đó trên một cái gì đó”. Ý của câu này nói là “trong một cái gì đó có giới hạn thôi, nếu bạn đặt cái gì đó thì công ty này sẽ cung cấp một cái gì đó cho bạn”. Rõ ràng chúng ta thấy đáp án (C) discount rất hợp lý, discount là “giảm giá”. Người ta hay nói “trong một khoảng thời gian có hạn hay với số lượng có hạn, nếu bạn làm gì đó thì chúng tôi cung cấp giảm giá bán cho bạn”. Đáp án là câu (C) discount.

Những chữ còn lại trong đáp án đều không phù hợp. Chữ delivery không liên quan, delivery là “việc giao hàng”.

Còn chữ renewal này là chữ quan trọng trong bài thi TOEIC. Nó là danh từ của động từ renew. Động từ renew nghĩa là “gia hạn”. Chữ renew này hay đi với chữ ví dụ như renew a contract – “gia hạn một hợp đồng”, hay renew a membership – “gia hạn quyền thành viên”. Ví dụ bạn làm thành viên của một tổ chức nào đó. Bạn đăng ký làm thành viên trong vòng 1 năm thì sau một năm nó hết hạn. Bạn phải đóng thêm tiền để gia hạn quyền thành viên đó. Hoặc nó đi với chữ này nữa: subscription – chữ rất quan trọng trong bài thi TOEIC. Subscription nghĩa là “việc đặt báo” hay việc “đặt tạp chí” nào đó, tức là cái này cũng hết hạn. Một hợp đồng đặt báo bạn đặt một năm hết hạn, bạn phải đóng thêm tiền. Tức là bạn phải “gia hạn hợp đồng đặt báo đó”. Chữ renew hay đi với những chữ này. Chúng ta thấy rõ ràng trong câu này chỗ trống không hề liên quan đến “hợp đồng”, hay “quyền thành viên”, hay “việc đặt báo”. Nên chúng ta không chọn renewal – “việc gia hạn” ở đây.

Lần sau bạn có thể ghi nhớ là chữ discount này rất hay đi với on: discount on sth. Ví dụ discount on new products là “việc giảm giá đối với những sản phẩm mới”. Ở đây discount đi với on.

Còn không thì bạn chú ý chữ significant. Significant là chữ rất quan trọng trong bài thi TOEIC: a significant —— là “một cái gì đó có tính chất significant”. Significant nghĩa là “đáng kể” – chữ rất là quan trọng. Nó hay mô tả “việc tăng hay giảm”, hay “những cái gì mà ít hay là nhiều gì đó”. Ví dụ như “một sự gia tăng đáng kể” hay “một số tiền đáng kể”. Nó hay mô tả cho những chữ như vậy. Nên đáp án rõ ràng là câu (C) significant discount – “một khoản giảm giá đáng kể” tức là “giảm giá nhiều”. Chúng ta không thể nói “gia hạn đáng kể” nên chúng ta không chọn renewal.

Câu 130

Câu này có bốn đáp án là bốn trạng từ khác nhau: only, exactly, nearly, doubly. Rõ ràng chúng ta cần xét nghĩa để biết chúng ta cần chọn trạng từ nào. Câu này được nói là This substance can be painted —— on metallic surfaces – “Cái thứ gì đó có thể được người ta sơn như thế nào đó trên những cái gì đó”. Rõ ràng ở đây trạng từ cần điền mô tả cho hành động “sơn” này: painted —— on metallic surfaces – “được sơn một cách như thế nào trên một cái gì đó”. Đầu tiên chúng ta có exactly nghĩa là “chính xác”. Thì painted exactly – “được sơn một cách chính xác” nghe có vẻ hơi kỳ. Chữ exactly hay đi với số lượng. Ví dụ exactly 5000 – “chính xác 5000 cái ghế”. Nếu exactly đi với động từ thì nó đi với động từ know: know exactly – “biết một cái gì đó một cách chính xác”. Tức là “Bạn biết đúng với sự thật, chính xác với sự thật”. Chứ ở đây exactly không đi với paint. Chúng ta thấy rất kỳ – “sơn một cách chính xác”.

Còn nearly nghĩa là “gần như”. Ví dụ mình nói He nearly missed the bus nghĩa là “Anh ấy đã gần như lỡ chuyến xe buýt”. Tức là “Anh ấy xém nữa là lỡ xe buýt”. Chẳng hạn như xe buýt đến vào lúc 9h mà anh ấy ra đó lúc 8:59 phút tức là “Xém nữa là anh ấy bỏ lỡ chuyến xe buýt”. Nghĩa của nearly là như vậy. Ở đây bạn thấy thứ nhất là nghĩa của nó có vẻ hơi kỳ: “được sơn một cách gần như”. Với lại chữ nearly này chỉ đứng trước động từ chứ nó không đứng sau động từ, “gần là một cái gì đó”, “gần như một cái gì đó”. Nearly không đứng sau động từ như trong câu này. Cho nên chúng ta không chọn nearly vào chỗ trống. Chúng ta thấy nghĩa của nó rất kỳ.

Rồi chữ doubly này là trạng từ của tính từ double. Double nghĩa là “gấp đôi”. Vậy chữ doubly này nghĩa là “một cách gấp đôi”. Thứ nhất là bạn thấy nó cũng kỳ: painted doubly – “được sơn một cách gấp đôi”. Thứ hai là chữ doubly này thường đi với một tính từ, đứng trước một tính từ. Ví dụ mình nói doubly important tức là “quan trọng gấp đôi”. Chính xác nó nghĩa là “rất quan trọng”: doubly important – “rất quan trọng, cực kỳ quan trọng”. Ở đây nghĩa của nó cũng kỳ nên chúng ta không chọn doubly.

Chúng ta còn đáp án only thôi. Chúng ta thấy ở đây đáp án only không có cái gì kỳ cả: painted only on metallic surfaces – “Người ta nói là được sơn chỉ ở trên cái gì đó, không sơn trên những cái khác”. Còn không thì bạn đọc câu phía sau thì bạn thấy only cũng rất hợp lý. Ở vế phía sau, it là “nó” – chỉ “cái thứ mà được người ta sơn”: It tends to corrode – “Nó làm gì đó để gì đó”. Other typestype là chữ quan trọng có nghĩa là “loại”. Types of materials cũng là chữ quan trọng. Chữ materials này nghĩa là “vật liệu” hay “chất liệu”. Other types of materials là “những loại vật liệu khác”. Bây giờ chúng ta thấy only cực kỳ hợp lý: This substance can be painted only on metallic surfaces, as it tends to corrode other types of materials – “Cái thứ này làm gì đó với những loại vật liệu khác, cho nên nó chỉ được sơn trên vật liệu này thôi, chứ những vật liệu khác thì nó như thế nào đó”. Nên chữ only này rất hợp lý. Vậy chúng ta chọn only.

Câu 131

Câu này có bốn đáp án khác nhau về nghĩa: usually, regarding, instead of, now that. Chúng cũng khác nhau về từ loại. Mình hay gọi dạng câu này là dạng câu tạp nham. Tức là bốn đáp án chẳng liên quan gì với nhau. Khi gặp những câu như thế này thì bạn nên xét ngữ pháp trước khi bạn xét nghĩa.

Nếu chúng ta xét ngữ pháp thì chúng ta nhìn phía sau chỗ trống là The construction of the metro station is complete – “Một sự construction của station gì đó thì hoàn chỉnh”. Rõ ràng ta thấy đây là một câu. Chủ ngữ là the construction of the metro station – “cái sự gì đó liên quan đến sự gì đó”. Còn is là động từ to be ở thì hiện tại đơn. Rõ ràng is complete đóng vai trò làm vị ngữ: The construction of the metro station is complete – “Cái gì đó thì như thế nào đó”. Chỗ trống trước the construction đang cần chữ nào đi sát với câu phía sau.

Đầu tiên chúng ta loại đáp án (A). Usually ở đây là một trạng từ. Trạng từ đứng đầu câu thường phải ngăn cách với câu bằng dấu phẩy. Ví dụ mình nói Usually, he goes to bed early – “Thường thì, anh ấy đi ngủ sớm”. Trạng từ ngăn cách với một câu là phải có dấu phẩy. Cho nên ở đây chúng ta không chọn usually.

Nếu bạn không biết nghĩa của chữ regarding thì bạn thấy ở đây nó là một động từ dạng V-ing. Nếu nó là động từ thì phải đi với cụm danh từ chứ không đi với một câu: “làm gì đó với cái gì đó”. Phía sau nó phải là cụm danh từ chứ không đi với một câu. Chúng ta loại đáp án regarding này.

Còn đáp án (C) instead of có giới từ of. Of là giới từ thì nó cũng phải đi với cụm danh từ. Of là “của cái gì đó”, hay “về cái gì đó”, hay “liên quan đến cái gì đó”. Of phải đi với một cụm danh từ. Còn không thì bạn nhìn thấy instead of, nghĩa của chữ này rất quan trọng: instead of có nghĩa là “thay vì”. Rõ ràng bạn thấy nó đi với cụm danh từ: “thay vì cái gì đó”, hay “thay cho cái gì đó”. Instead of không đi với một câu cho nên chúng ta cũng loại đáp án này.

Vậy bây giờ chúng ta chỉ còn now that. Rõ ràng chữ nào có that thì nó chuyên đi với một câu. Chúng ta rất hay gặp trường hợp này. Ví dụ mình nói He says that she is nice. Câu này nghĩa là “Anh ấy nói rằng cô ấy thì tốt bụng”. Sau that là một câu có chủ ngữ và vị ngữ. Cho nên ở đây chúng ta chọn that rất hợp lý.

Còn không thì bạn có thể coi nghĩa ở đây. Câu phía trước là The construction of the metro station is complete – “Việc xây dựng cái nhà ga gì đó thì được hoàn tất”. Còn câu phía sau là Traffic using this street will be less congested – “Giao thông mà sử dụng con đường này sẽ ít như thế nào đó hơn”. Ý chúng ta hiểu là “ngày xưa có một việc xây dựng gì đó cho nên giao thông bị trì trệ gì đó, nhưng mà bây giờ việc xây dựng này đã hoàn tất rồi, nó sẽ dẫn đến là giao thông sẽ ít bị trì trệ hơn”. Nên chúng ta đang cần một chữ mang nghĩa là “bây giờ” vào chỗ trống: Now that the construction of the metro station is complete, traffic using this street will be less congested – “Bây giờ cái này đã hoàn thành rồi thì giao thông sẽ như thế nào đó”. Nên chúng ta chọn now vào. Chữ now that này có chữ now nên bây giờ câu rất hợp lý.

Lần sau nếu bạn gặp now that thì bạn nhớ chính xác nghĩa của nó. Nó đồng nghĩa với chữ because – “bởi vì”. Now that đi với một câu thì nó có nghĩa là “bởi vì”. Tức là thay vì người ta nói “Bây giờ nhờ việc này hoàn tất rồi nên giao thông sẽ như thế nào đó” thì câu đó có thể được thay thế bằng chữ “bởi vì”: “Bởi vì cái này đã hoàn tất rồi thì giao thông nó sẽ như thế nào”.

Câu 132

Chúng ta thấy câu này nói The design work of our new e-learning website was —— aided by the talents of the two artists – “Công việc thiết kế gì đó của trang web gì đó của chúng tôi thì đã được đã được aid bởi những cái gì đó”. Was —— aided là động từ to be đi với động từ dạng V-ed – cấu trúc thể bị động. Chúng ta thấy câu này đã đủ nghĩa rồi. Chúng ta không cần điền cái gì vào chỗ trống thì nó cũng đủ nghĩa. Vì bình thường was aided đi liền với nhau: The design work of our new e-learning website was aided – “Cái gì đó đã được aided” thì câu đã đủ nghĩa rồi. Mỗi lần câu đã đủ nghĩa rồi mà người ta bắt bạn chọn thêm một chữ vào chỗ trống thì rõ ràng chúng ta chọn trạng từ. Vì trạng từ là loại từ chuyên chèn vào một câu đầy đủ để mô tả thêm cho câu đó. Ở đây cụ thể là nó mô tả cho động từ aided này – “đã được aid một cách như thế nào”. Nên chúng ta chọn đáp án là câu (C) greatly. Còn không thì lần sau bạn cứ nhớ là mỗi lần chỗ trống nằm sau một động từ to be với một động từ dạng V-ed thì luôn luôn bạn chọn trạng từ. Chắc chắn bạn sẽ đúng.

Bình Luận