Giải đề TOEIC Economy 3, Đề 1, Câu 107

Sự khác biệt giữa who, whom, whoeverwhose là như thế nào?


Lời thoại của video:

Câu này chúng ta làm như thế nào? Bạn để ý là 4 đáp án này đều bắt đầu bằng Wh. Ta thường gọi đây là dạng câu 4 Wh. Nếu mà gặp dạng câu 4Wh mà bạn muốn làm nhanh thì nhìn vào phía sau chỗ trống là một cụm danh từ (paintings) thì bạn chọn ngay đáp án Whose vào. Cứ thấy có cụm danh từ phía sau thì chọn ngay whose. Bởi vì theo kinh nghiệm đi thi nhiều lần của mình cho thấy làm như vậy nó rất hay đúng đối với dạng câu này. Nếu bạn muốn làm trong thời gian ngắn mà xác suất đúng cao thì bạn chọn nhanh đáp án này.

Nhưng mà nếu chúng ta xét một cách đàng hoàng, tức là nếu làm một cách thấu đáo và logic thì vì sao whose lại đúng mà những đáp án kia lại sai? Thì chúng ta cùng xét cách dùng của từng đáp án này. Thứ nhất chúng ta có whowhom thì dùng như thế nào? Whowhom đều bắt đầu một mệnh đề quan hệ. Tức là phía trước nó phải có một cụm danh từ. Đối với whowhom thì phía trước phải là danh từ chỉ người. Tức là ai đó như thế nào đó (mệnh đề quan hệ mô tả cho danh từ chỉ người phía trước).

Nhưng mà cách dùng của who với whom khác nhau như thế nào? Ví dụ: The man who sits there. Nghĩa là người đàn ông mà ngồi ở đó. Đây là cách dùng của who, phía trước là cụm danh từ chỉ người, phía sau là một vị ngữ (một động từ chia ở thì nào đó, ở đây là động từ sit chia ở thì hiện tại đơn). Cách dùng thứ hai của who như sau: The man who she likes. Người đàn ông mà cô ấy thích. Bây giờ phía trước cũng là cụm danh từ chỉ người, còn phía sau là một câu có chủ ngữ và vị ngữ.

Còn whom dùng như sau. Nó dùng giống như who ở trường hợp phía dưới này. Mình hoàn toàn có thể nói là: The man whom she likes. Người đàn ông mà cô ấy thích. Phía trước là danh từ chỉ người và phía sau là một câu có chủ ngữ vị ngữ. Hai cái này y chang nhau, nhưng bạn chú ý là whom không dùng giống trường hợp ở trên được (the man who sits there).

Thì chúng ta coi lại cấu trúc ở câu này. Ta thấy phía trước đúng là một cụm danh từ chỉ người (artist, đuôi danh từ chỉ người). Art là nghệ thuật, artist là những người nghệ sĩ. Ở đây chỉ những người nghệ sĩ người Úc. Phía sau chúng ta có paintings là những bức vẽ. Động từ paint là sơn, nhưng painting nghĩa là bức tranh. Bạn thấy mỗi lần vẽ tranh người ta hay dùng cọ để sơn lên. Người ta hay gọi là tranh sơn dầu. Những bức tranh thì hiện đang được trưng bày ở trong chỗ nào đó. Thì rõ ràng phía trước là một cụm danh từ chỉ người. Phía sau là một câu có chủ ngữ vị ngữ. Nhưng mà bạn có được dùng who với whom ở đây không? Thì bạn để ý mỗi lần bạn dùng who/whom (thứ nhất ta loại trường hợp the man who sits there đi, không xét trường hợp này vì phía sau là một câu), ta xem whowhom ở trường hợp dưới có dùng được cho câu này không, bởi vì cấu trúc nhìn có vẻ giống. Nhưng bạn để ý mỗi lần bạn dùng như vầy thì phía sau câu phải có một động từ tác động ngược lên danh từ phía trước. Người đàn ông mà cô ấy thích, tức là cô ấy thích người đàn ông này. Động từ like tác động lên chữ man. Like cái gì? Like the man. Thích cái gì? Thích người đàn ông. Mình cho bạn một ví dụ khác: The employee who/whom the company hired yesterday. Câu này nghĩa là: Người nhân viên mà công ty đã thuê vào ngày hôm qua. Phía trước là một cụm danh từ chỉ người, phía sau là một câu có chủ ngữ vị ngữ, nhưng phía sau buộc phải có một động từ tác động ngược lên danh từ phía trước. Người nhân viên mà công ty thuê, tức là công ty thuê người nhân viên đó. Thêm một ví dụ khác: The girl who/whom I sent the letter to. Phía trước là một danh từ chỉ người. Cô gái (the girl) mà tôi (chủ ngữ) đã gửi lá thư đến (vị ngữ). Cấu trúc vẫn y như vậy nhưng bạn thấy là phía sau phải có một hành động. Một cái gì đó tác động ngược lên danh từ phía trước. Ở đây là gửi lá thư đến cô gái (to the girl). Hoặc nó phải có một động từ như ở trên (she likes), hoặc một giới từ như ở đây (to) để tác động ngược lại danh từ. Trong khi đó ở trên này ta thấy là không thể được. Phía sau là những bức tranh đang được trưng bày, thì không thể nào là trưng bày những người nghệ sĩ, hay trong những người nghệ sĩ được. Tức là phía sau không có cái gì để tác động lên danh từ phía trước hết.

Khi nào mới được dùng who/whom? Đối với câu này ví dụ nói là: The Australian artists who/whom the paintings are about. Những nghệ sĩ người Úc mà những bức tranh đó nói về. Tức là những bức tranh này nói về người nghệ sĩ. Tức là ở sau phải có cái gì tác động lên những người nghệ sĩ. Những người nghệ sĩ mà bức tranh đó vẽ về. Hoặc là một ví dụ khác: The Australian artists who/whom the fans wanted to meet. Những người nghệ sĩ mà fan hâm mộ muốn gặp. Họ gặp ai? Gặp những người nghệ sĩ. Phía sau cần có một động từ tác động trực tiếp lên danh từ. Lúc đó mới dùng who/whom. Cho nên ở đây who trong trường hợp này không thể dùng cho câu của chúng ta và whom cũng không thể dùng được. Nên chúng ta loại hai đáp án who/whom.

Còn whoever chúng ta dùng như thế nào? Ta xét cách dùng whoever. Mình cho hai ví dụ:

Whoever has the most scores will win.

Bất kỳ ai có số điểm nhiều nhất thì sẽ chiến thắng.

Cách dùng thứ nhất của whoever là đi phía sau nó là một vị ngữ, và nguyên đoạn Whoever…scores sẽ trở thành một cụm danh từ. Bất kỳ ai có điểm cao nhất – nguyên cụm này đang chỉ một người nào đó. Còn ví dụ như câu:

She will choose whoever she likes.

Cô ấy sẽ chọn bất kỳ ai mà cô ấy thích.

Ở đây thì sau whoever là một câu có chủ ngữ và vị ngữ, và nguyên cụm whoever she likes cũng đóng vai trò như một cụm danh từ. Bất kỳ ai mà cô ấy thích ám chỉ một ông nào đó.

Bạn thấy cách dùng của whoever, một là đi với vị ngữ, hai là đi với một câu để nguyên cả cụm đó sẽ đóng vai trò cụm danh từ. Ở ví dụ trên thì cụm danh từ đóng vai trò chủ ngữ của câu. Bất kỳ ai có số điểm cao nhất là chủ ngữ. Sẽ chiến thắng là vị ngữ. Còn cụm danh từ ở ví dụ phía dưới thì đóng vai trò như tân ngữ đứng sau động từ. Cô ấy sẽ chọn gì? Chọn bất kỳ ai cô ấy thích.

Bởi vì whoever bắt đầu một cụm danh từ như vậy cho nên nó không thể đứng sau một cụm danh từ được. Bạn thấy ở đây ngay trước chỗ trống là một cụm danh từ, thì không thể chọn thêm một cụm danh từ vô đây. Chúng ta không được như vậy. Ngữ pháp không cho phép hai cụm danh từ đứng liền nhau mà không có cái gì tách ra ở giữa. Whoever phải đứng riêng, tách biệt như một cụm danh từ. Cho nên ở đây bạn không thể chọn whoever.

Rõ ràng đáp án hợp lý duy nhất của chúng ta là whose. Vậy whose dùng như thế nào? Ví dụ:

The man whose car is big.

Người đàn ông mà cái xe của ông ta bự.

Tức là phía trước là danh từ chỉ người và phía sau là một câu có chủ ngữ vị ngữ. Nhưng phía sau nó không cần cái gì để tác động ngược lên phía trước hết giống như who/whom lúc nãy. Đơn giản bạn chỉ nói là cái thứ này là của cái này thôi, thì bạn dùng whose. Bạn chú ý phía trước không nhất thiết là danh từ chỉ người. Nó hoàn toàn có thể là danh từ chỉ vật. Ví dụ: The house whose door is green. Ngôi nhà mà cái cửa của nó màu xanh. Cho nên ở đây chọn whose là hợp lý. Ở đây đang muốn nói là những nghệ sĩ người Úc mà những bức tranh của họ hiện đang được trưng bày ở đâu đó. Nhìn lên đây bạn hình dung những người nghệ sĩ mà những bức tranh của họ hiện đang được trưng bày.


Bài tập được lấy từ sách Economy TOEIC 3 – RC 1000.
Tác giả: 니오
Xuất bản: 21세기북스

Bình Luận